Bài Song phượng kiếm của nữ tướng Bùi Thị Xuân và ý nghĩa của Kiếm trong Võ cổ truyền Việt Nam

10 09 2009

Master Taan Kamal – Võ sư Liên đoàn võ thuật Pháp tập võ cổ truyền tại Đà Lạt.

Giáo sư Charles Charlmers, Canada – Đại học Đà Lạt trong một thế kiếm.

* Nữ tướng Bùi Thị Xuân và bài Song phượng kiếm

Sách Việt Nam Danh Nhân Tự Điển chép rằng: Nữ tướng Bùi Thị Xuân là vợ của danh tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu. Bà là người thôn Xuân Hoà, xã Bình Phú, quận Bình Khê, tỉnh Bình Định. Bà có tài binh bị, thường tòng chinh đánh giặc lập được nhiều chiến công, là một nữ tướng tài ba dũng lược nhưng lại giàu lòng vị tha nhân ái và độ lượng, bà không bao giờ giết quân đã thua chạy hoặc đầu hàng.

Đến hồi nhà Tây Sơn suy mạt, khi thành Phú Xuân lọt vào tay chúa Nguyễn, bà theo vua Cảnh Thịnh chạy ra Nghệ An, rồi tự đem 5.000 quân can đảm trấn giữ lũy Trấn Ninh. Đến tháng Giêng năm Nhâm Tuất (1802), nghe tin thủy quân Tây Sơn bị phá ở Nhật Lệ, bà phải lui quân. Bấy giờ Đại tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng không giữ được Quy Nhơn, đưa quân theo ngả thượng đạo ra Nghệ An để hội với vua giữ thành, đến huyện Hương Sơn được tin thành Nghệ An mất, Trần Quang Diệu bèn cùng Bùi Thị Xuân quay về huyện Thanh Chương, được mấy hôm thì cả hai vợ chồng đều bị bắt. Sau cùng vợ chồng bà cùng con gái phải chịu tội chết, Trần Quang Diệu bị tội lột da, còn bà và con gái bị tội voi dày.

Giáo sĩ La Bissachère mục kích cuộc hành hình vị nữ tướng này, đã tả trong cuốn ký sự của ông như sau: “Bùi Thị Xuân mặt không đổi sắc, tiến đến trước mặt voi như chọc tức nó. Mấy tên lính thét bảo Thị Xuân quỳ xuống, nhưng bà vẫn xăm xăm tiến bước. Voi lùi lại, bọn lính phải lấy giáo thọc vào đùi voi, bấy giờ voi mới quặp lấy Thị Xuân tung lên trời… Bùi Thị Xuân chết rồi, bọn lính bèn lấy dao cắt lấy tim, gan, thịt ở cánh tay bà mà ăn sống, vì muốn được can trường như bà”. Bùi Thị Xuân đã để lại tấm gương dũng liệt và đến nay tại nơi quê hương bà còn truyền bài thơ ca tụng tài đức bậc anh thư như sau:

Xưa nay khăn yếm vượt mày râu.
Bùi thị phu nhân đứng bậc đầu.
Chém tướng, chặt cờ, khoe kiếm sắt.
Vào thần, ra qủy, tỏ mưu sâu.
Quên nhà, nợ nước đem toan trước.
Vì nước, thù nhà để tính sau.
Tài đức nghìn thu còn nức tiếng.
Non còn chảy ngọc bởi vì đâu.

Thuở thiếu thời Bà Bùi Thị Xuân xinh đẹp nhưng cương nghị, dũng mãnh, là gái nhưng lại thích tập luyện võ thuật, đi quyền, múa kiếm, đánh côn, bà là nữ tướng có tài huấn luyện và điều khiển tượng binh. Trong dòng Võ cổ truyền Bình Định – Việt Nam, đến nay vẫn còn lưu truyền bài song kiếm nổi tiếng một thời của bà, đó là bài “Song phượng kiếm”.

Lợi kiếm mộ hồn thương.

Vân phi hà nguyệt tẩu.
Phượng dực đáo lâm tiền.
Tứ quý bảo Nam Bang.
Đông sương lưu quan ải.
Hậu nhựt kiến loan phi.
Tây thiên hà kiếm khách.
Phượng dực đáo sơn bồng.

* Kiếm trong võ cổ truyền dân tộc.

Kiếm là binh khí trong Thập bát ban võ nghệ Võ cổ truyền dân tộc, là loại binh khí ngắn hai lưỡi có tên gọi rất đẹp là “Vua của trăm binh khí có lưỡi”. Sách sử chép rằng kiếm xuất hiện rất sớm, từ thế kỷ 17 trước Công nguyên. Trong thời kỳ cổ đại, thanh kiếm dùng làm binh khí chiến đấu và luyện tập võ nghệ và còn là biểu tượng cho quyền lực, địa vị, đẳng cấp trong lễ nghi, thanh kiếm cũng được coi là một thứ trang sức phong nhã, các văn nhân, học sĩ đeo kiếm để tỏ ra mình là tao nhân, mặc khách, cao nhã không dung tục.

Kết cấu của thanh kiếm được chia làm hai bộ phận chính là thân kiếm và cán kiếm. Thân kiếm do lưỡi kiếm, sống kiếm, mũi kiếm cấu tạo thành. Cán kiếm có vành chắn để bảo vệ tay, tay nắm, đốc kiếm, ngoài ra còn có bao kiếm, tua kiếm. Độ dài của kiếm xưa nay cũng không đồng nhất. Theo tài liệu khảo cổ học Trung Quốc, cổ vật đoản kiếm khoảng 40cm (trủy thủ hay còn gọi là chuỷ thủ), kiếm thường khoảng 100 – 105cm, trường kiếm dài đến 140cm. Trong phong trào võ thuật hiện đại, độ dài của kiếm theo “quy tắc thi đấu võ thuật” qui định khi thi vận động viên cắp ngược kiếm thõng hẳn tay xuống thì mũi kiếm chấm đến vành tai là chuẩn. Đôi dòng mô tả vẻ đẹp của kiếm.

Kiếm là vua của trăm binh khí có lưỡi.
Kiếm đi thức đẹp.
Kiếm tựa gió bay.
Kiếm như rồng lượn.
Tĩnh kiếm như trinh nữ.
Động kiếm tựa rồng bay.
Kiếm hoa như phụng vũ.
Đơn đao khán thủ, bảo kiếm khán đàm.

* Lời thiệu một số bài kiếm trong võ cổ truyền Việt Nam.

– Huỳnh long độc kiếm :

Diện tiền bái kính Tổ sư.
Hồi thân thủ bộ vẻ người hiên ngang.
Kiếm ôm theo bộ xung thiên.
Tả hữu song chỉ mình nghiêng thế chào.
Phụng đầu thế kiếm giương cao.
Thối lui hạ bộ nhập vào chém ngang.
Chém rồi bên tả tránh sang.
Hữu môn thượng mã kiếm ngang chân mày.
Kiếm loang long ẩn vân phi.
Sơn đầu hạc lập đâm ngay hạ đàng.
Rút về phong toả đôi bên.
Dùng đòn hạc tấn tiến lên chớ chầy.
Xà hành nghịch thuỷ cho hay.
Tàng đầu lộ vĩ chém bay qua đầu.
Thối hồi đơn phụng quang châu.
Chân theo xà tấn kiếm hầu Tổ sư.

– Long môn kiếm :

Gươm linh diệu động bái Tổ tiên.
Hoành khai tấn thích tả hữu biên.
Đào tẩu hộ hồi xà lộ vĩ.
Trường lập hóa đao lạc bộ tiền.
Tiền sát kim hành thích như thích.
Tẩu mã hậu hoành hành như hành.
Sơn trung kiến khách anh hùng thế.
Xuyên thượng bàng phi hạ giang trung.
Phản mã hồi thành long môn bộ.
Hoành thân sát thích lập như tiền.

– Lưỡng nghi kiếm :

Âm dương nhứt cử đáo long đầu.
Bạt kiếm song hành nghịch thuỷ lưu.
Lưỡng lộ giao công phân hắc bạch.
Ngũ môn phóng xuất đoạt minh châu.
Thối bộ song hồi thân thủ cảm.
Tấn tam cấp võ phạt song câu.
Hoành thân tấn thích tam phân khí.
Hồi đầu vọng bái lưỡng nghi thâu.

– Lục mạch kiếm :

Khai môn rung động tả xung thiên.
Quy khứ quy lai phục bộ truyền.
Diêm phù phóng triển lai toạ địa.
Xuyên thượng bàng phi hạ giáng biên.
Long hành phún thuỷ phi đảo vũ.
Hổ bộ sơn xuyên bách bộ chuyền.
Linh quy lạc hải thích như thích.
Phượng lạc kỳ sơn hành như tiền.

– Âm dương kiếm pháp :

Khởi pháp âm dương.
Âm dương hợp nhất.
Tả hữu biên giang,
Hậu tiền đích thủy.
Tam phân tiền bộ.
Tam bộ hậu phân.
Hạ thượng trung chi.
Tung hoành thuận nghịch.
Loang kiếm âm dương,
Nhị phân tả hữu.
Tiễn phong tiền hậu.
Bái Tổ âm dương.

– Thư hùng kiếm :

Hồi thân nhất bái.
Nhị hạ song biên.
Chuyển thủ tấn liên.
Chấn thiên kích hạ.
Song xa loan chiến.
Nhị cước trung kiên.
Hồi thân phi kiếm.
Tấn đả nhị biên.
Tam chiến phi thiên.
Thối toạ cương liên.
Chuyển thủ tiếp liên.
Tấn đả long môn.
Hạ thân phi kiếm.
Bái Tổ như tiền.

– Nhu vân kiếm :

Bước vào chắp kiếm bái sư.
Tiên nhân chỉ lộ, thiềm thừ quá giang.
Song phong xuất bộ tấn sang.
Thanh long nhập hải, phụng hoàng phi thân.
Song đề nhật nguyệt giao công.
Bạch viên hiến quả, thần đồng kính sư.
Loang thiên thám thủy đồng cư.
Hoành khai tả hữu phá ngôi thanh trì.
Xa luân nhập trận đồng thi.
Giao tiên tiễn nguyệt tức thì báo ân.
Trở về thủ bộ bảo thân.
Phóng song phong kiếm rẽ vân Ngân Hà.

Ngày nay, dù là binh khí cổ truyền nhưng kiếm vẫn giữ được biểu tượng cao quý, uy nghi được dùng trang trọng trong nhiều nghi thức quân sự. Các Trường quân sự nổi tiếng của nhiều nước trên thế giới vẫn dùng cung, kiếm cho các vị thủ khoa làm lễ ra trường. Cung bắn đi bốn hướng, kiếm thay cho quyền lệnh chỉ huy, mang ý nghĩa tỏ chí tang bồng.


Hành động

Information

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s




%d bloggers like this: